Nhà sư và tên cướp

Ở hướng Đông Bắc có một ngôi làng nhỏ cạnh chân núi. Làng heo hút và khá xa so với các làng khác trong trấn. Người dân chủ yếu là đàn bà và trẻ con vì những người đàn ông khỏe mạnh đã đi làm ăn xa. Để đi đến ngôi làng này, người ta phải vượt qua 2 con đèo và một thác nước. Nói chung, những người ở huyện lị nếu không thực sự có việc quan trọng thì không ai muốn đến làng này làm gì cả.

Cách làng 1 quãng đường mòn vài con dao quăng, hướng đi lên lưng chừng núi có một am đất nhỏ. Am nằm dưới tán lá rừng rậm, cạnh 1 con suối nước chảy quanh năm. Nếu không phải người dân địa phương thì ít người có thể biết đến am này. Đây là nơi tu hành của một sư bác cũng tầm tuổi thất thập rồi. Sư bác gầy gò, sống lặng lẽ, ít giao thiệp với người làng. Tuy vậy, mỗi khi dân làng đến thắp hương bái phật thì sư bác cũng vui vẻ mời vào. Thường thì sư chỉ mỉm cười và không phải câu hỏi nào cũng trả lời. Sư luôn giữ một khoảng cách với người khác, nhưng không phải là lạnh lùng, chỉ là muốn cho người dân biết rằng không nên phạm vào không gian riêng tư. Người dân cũng hiểu sư đang muốn tu hành nên cũng hết sức tôn trọng khoảng cách này.

Không ai biết sư tên thật là gì, đến từ đâu, cũng không biết sư đã tu ở đây bao lâu, sư cũng chẳng bao giờ trả lời về điều này mà chỉ cười rằng “điều đó không thực sự quan trọng”. Sư sống lặng lẽ, hòa mình vào thiên nhiên, như thể là một phần nhỏ bé của nơi này. Sự có mặt của sư không làm thay đổi bất kỳ điều gì vốn có ở đây. Sư tôn trọng tất cả, chỉ xin một khoảng đất nhỏ trước cửa 1 cái khe đá, dưới tán cây cổ thụ, để dựng một am vách đất, trên lợp lá khô rụng xuống. Sư hái rau dại và một ít cây thuốc, cứ khoảng nửa tháng lại đem ra chợ huyện, đổi lấy một ít gạo, muối và đậu. Trong am không có tượng gỗ như trong các chùa lớn. Sư lấy đá ghép thành tượng phật, lấy cây rừng trộn đất hoặc than để tạo màu vẽ mặt tượng. Một ngày của sư bắt đầu bằng việc dậy sớm ngồi thiền, tụng kinh rồi đi một vài bài quyền. Sau đó, sư đi vào rừng tìm thức ăn hoặc chăm sóc mảnh vườn nhỏ bên cạnh suối. Sư cũng đọc sách, hoặc viết lách gì đó. Sư không đi xin thức ăn, nhưng thỉnh thoảng dân làng lên lễ phật vẫn cố ý mang cho sư một chút đồ từ bếp nhà họ. Cuộc sống của sư được người làng kể bằng 4 từ “vô cùng yên tĩnh”.

*       *      *

Một đêm mưa, trước cửa am có tiếng sột soạt. Cửa am bị giật ra bất ngờ và 1 bóng đen lừng lững đứng đó. Sư choàng tỉnh dậy, thoáng sợ hãi nhìn bóng đen với con dao trong tay. Sư lập cập châm lửa vào bó đuốc nhỏ kẹp hạt thầu dầu. Sư cố gắng tỏ ra bình tĩnh mời bóng đen vào am. Am không quá nhỏ nhưng sự có mặt của hai người này cùng một lúc khiến không khí trở nên đặc quánh, vô cùng ngột ngạt. Không gian yên tĩnh quá mức khiến người ta có thể nghe thấy cả 2 trái tim đập theo hai nhịp khác nhau. Giọt mồ hôi nhỏ xuống còn mạnh hơn cả hạt mưa rơi.

Trong ánh đèn leo lét, nhà sư già mảnh khảnh nhìn người đàn ông trung niên độ gần 40 tuổi, bắp tay bắp chân vạm vỡ ngoằn ngèo những hình xăm, râu tóc dài chắc cả vài năm rồi chưa cắt tỉa. Rõ ràng không phải người vùng này. Nhà sư lấy ghế mời anh ta ngồi xuống, còn bản thân mình châm lửa nấu nước pha dược trà và cháo loãng. Người đàn ông dõi theo từng cử chỉ của nhà sư bằng con mắt vằn lên những tia máu. Các ngón tay của anh ta chuyển động như thể đang điều khiển cái gì đó vô hình, cái đầu đung đưa quay quay. Thỉnh thoảng anh ta thở hắt ra hồng hộc hoặc giật cột sống kêu răng rắc. Khi đưa cho anh ta bát cháo, sư liếc nhìn cổ tay đầy thương tích và lớp máu khô sít đặc vào đám tóc ở trên đầu.

Trong lúc anh ta ăn cháo và uống trà, sư dọn dẹp góc am, trải lá cho anh ta ngủ cạnh bếp than cho đỡ lạnh, còn bản thân thì chuyển ra nằm cạnh cửa sổ. Lúc quay ra đã thấy bát cháo thì cạn, chén trà vơi đi 1 nửa, đầu người đàn ông rũ xuống. Sư thì thầm đánh thức và chỉ cho anh ta chỗ nằm. Chỉ một người chìm vào giấc ngủ cho tới tờ mờ sáng hôm sau. Sư ra khỏi giường đúng giờ như mọi ngày, làm đúng công việc theo thói quen. Sư giữ khoảng cách với anh ta như với dân làng, ít nói chuyện và chỉ mỉm cười. Mặc dù không thường xuyên nhìn vị khách không mời, nhưng sư biết được tất cả những gì mà anh ta đang làm. Khi anh ta loay hoay với mấy con vắt rừng bám vào cổ và nhìn về sư với ánh mắt cầu cứu, sư cũng không đáp lại ánh mắt đó. Khi anh ta đánh rơi cái nồi nước trà, sư vẫn chú tâm chẻ củi như không có chuyện gì xảy ra. Hai người bọn họ trải qua một ngày yên tĩnh đến mức gần như không có sự giao tiếp gì.

Màn đêm buông xuống, sư dọn lá chuẩn bị đi ngủ. Mọi hôm sư ngủ cuối canh 2 nhưng hôm nay sư ngủ trễ hơn 1 canh giờ. Người đàn ông bỗng trở nên bồn chồn, quay quay con dao trong tay. Trước khi nằm xuống, sư ngồi kiết già để đọc nốt một bài kinh. Người đàn ông chồm về phía nhà sư và dí con dao vào ngực. Mũi dao ép lên chiếc áo nâu sòng đã sờn rách, hướng thẳng vào trái tim đang đập liên hồi. Từ miệng của anh ta trào ra biết bao nhiêu lời nói như thể nó đã bị dồn nén trong 1 thời gian rất dài. Anh ta dọa nạt, chửi bới, nhạo báng, buộc tội rằng tất cả thế giới này bất công với anh ta. Anh ta kể lể về quãng thời thơ ấu tươi đẹp bị cướp mất, về sự lo lắng tột độ, cô đơn cùng cực, trống rỗng bên trong và tuyệt vọng đến đỉnh điểm. Với mỗi câu chuyện, mũi dao càng cắm sâu hơn vào ngực và máu bắt đầu trào ra thấm ra vạt áo bên ngoài. Anh ta đòi hỏi sự tự do, sự giải thoát và mong muốn điều đó phải thực hiện ngay lập tức mà không có bất cứ sự trì hoãn nào.

Sư vẫn ngồi lặng yên, mắt khép hờ nhưng tai vẫn nghe đầy đủ mọi âm thanh vang lên trong đêm đầy gió. Ngay cả khi cổ họng khô đến mức bỏng rát, môi sư vẫn mấp máy đều đều tụng những câu thần chú. Không có một sự kháng cự nào từ phía sư ngay cả khi cảm giác đã cận kề nơi niết bàn. Dường như, sư đạng đợi một điều gì sẽ đến, nó là một câu trả lời thực tế cho mọi dự đoán sai lầm. Mỗi khi mũi dao được nhấn thêm 1 nhịp, sư nhận thấy luồng điện chạy dọc từ đầu xuống chân, khiến cho cơ thể bỗng trở nên nóng bừng rồi lạnh toát, cảm giác tê dại và tách rời lâng lâng. Mùi tử khí xộc thẳng vào mũi và long đến tận óc và cảm giác nhớp nháp, bẩn thỉu ở trong miệng.

Sau 1/4 canh giờ, mọi thứ lại yên tĩnh đến kỳ lạ. Người đàn ông biến mất, chỉ để lại một mình sư nằm yên lặng trong am.

*      *      *

Tiếng gà rừng kêu rộn ràng làm sư choàng tỉnh giấc. Hôm nay sư mệt hơn mọi ngày, nhưng vẫn dậy nấu dược trà và cháo. Sư đưa mắt xuống dưới bờ suối, người đàn ông đang ngồi vót tre trên một tảng đá. Con dao đâm vào ngực sư đêm qua đang lướt đi thanh thoát trên cái cật tre. Anh ta đang vót tên hoặc cũng có thể là chông. Hôm nay sư đi vào rừng lấy quả và dược liệu. Sư khoác cái gùi tre lên lưng, im lặng bước đi. Người đàn ông lầm lũi theo sau, nhưng có lúc anh ta vượt lên phía trước, lượn lờ trước mặt sư. Hít một hơi thật sâu và thở ra thật dài, rồi hạ vai xuống, sư nhìn anh ta trìu mến. Nhưng khi anh ta nhìn lại, sư quay đi không nói câu nào. Hai người như 2 con thú cô độc của núi rừng, luôn cách nhau vài bước chân và không ai nói gì về chuyện đêm qua. Sư chú ý vào những viên sỏi, thảm lá dầy hoặc những rễ cây ngoằn ngoèo mà mình bước chân lên, cảm nhận sức nặng của cơn thể lên đôi chân của mình. Bữa nay trời âm u vì mưa rừng đã mấy hôm, sư nhìn vào những đám rêu mọc trên cây hoặc đá mà biết hướng mặt trời mọc để tránh lạc đường. Sư nghe tiếng chim, tiếng khỉ để phân biệt nơi an toàn và nhiều cây trái. Một nhành lan rừng nở hoa xà xuống mặt thơm thoang thoảng. Vươn tay với 1 nụ mâm xôi đã ngả tím đen, sư ngậm vào miệng để cảm nhận vị ngọt và chua thanh từ từ chảy vào cổ họng. Sư nhìn cái gai mâm xôi cắm trên đầu ngón tay đau buốt rồi nhẹ nhàng nhấc nó ra cười hiền hòa.

Người đàn ông lẽo đẽo theo sư nhưng anh ta chẳng giúp ích được gì cả. Đôi lúc anh ta như đứa trẻ ngây thơ, tò mò về thế giới và kêu váng lên chỉ vì một con sâu. Nhưng có lúc anh khùng lên như một con gấu, chửi rủa 1 tràng dài, bắn ra cả đống nước bọt, đôi mắt đỏ ngầu vằn lên tia máu nhìn sư trừng trừng, rồi tự mình hạ hỏa một cách ngoạn mục. Sư không nhìn anh ta nhưng vẫn biết anh ta đang làm gì. Sư không giúp đỡ, cũng chẳng giải thích, chẳng đôi co, chẳng kháng cự, mặc kệ cho anh ta muốn làm gì thì làm. Tuy vậy, sau buổi trưa thì sư thấy nặng đầu và đến cuối giờ chiều thì đau nửa đầu bên phải. Trên đường về, người đàn ông tiếp tục càu nhàu, chửi rủa, phán xét khiến sư không thể không bận tâm. Vai sư nặng trĩu cả gùi trái cây và dược liệu, nhưng sư không nhờ và anh ta cũng chẳng đỡ, một mình sư cõng cái gùi nặng trịch đó về am.

Thả cái gùi xuống trước cửa, sư lảo đảo bước vào đống lá cạnh cửa sổ và vật xuống. Cơn đau nhức buốt lộng óc bên nửa trán phải với tâm điểm nằm giữa đường lông mày và chân tóc, hạ xuống một chút trong hốc mắt và lệch về thái dương phải. Sư nằm nghiêng về hướng đau, bàn tay phải áp vào vùng từ má đến chân tóc. Thỉnh thoảng có những cơn giật mạnh từ thái dương và sau đó tối đen hoặc đỏ lòe đường chân trời. Hít một hơi thật sâu, sư trở mình nằm thẳng, hạ vai xuống, hai tay xuôi theo thân rồi thở ra từ từ, nhẹ nhàng. Hơi thở đều đều, không có nhịp ngắn, nhịp dài. Sư soi từ chân mình cho đến đỉnh đầu và tưởng tượng mình đang ngồi bên dòng suối và nhìn những chiếc lá trôi đi.

Trời bắt đầu tối, sư trở dậy nấu nồi cơm và bát canh đỗ xanh nguyên vỏ với hạt sen và 1 khúc bí xanh. Người đàn ông lũi cũi làm thịt con cầy mà anh ta săn được lúc đi rừng. Mâm cơm chung 2 người, không có ranh giới nhưng phân biệt được chay mặn rất rõ ràng. Đối với sư, đây là bữa ăn thịnh soạn nhất trong nửa tháng nhưng cảm giác cơm như trấu, canh thì đắng và mặn. Trời lạnh mà sư toát mồ hôi, cố uống hết canh vẫn cảm thấy khô miệng. Bước chân không thật, nặng nề, nửa thân trên lâng lâng và đôi lúc thấy những tượng đá nghiêng nghiêng, chao đảo.

Cơm nước xong, sư bắc nồi lên bếp đun ít dây lạc tiên vừa cắt được trên rừng, thêm ít củ hà thủ ô, cỏ máu và cam thảo. Ở đây chỉ còn mấy thứ đó là dễ kiếm. Nước sôi 1 lúc, sư rót ra 2 bát, đẩy một bát về phía người đàn ông. Nước thuốc ngầu đỏ, bốc khói bên cạnh bếp lửa rừng rực cháy. Người đàn ông nhấp 1 ngụm rồi kêu chát khó uống. Bụng anh ta sôi lên òng ọc, anh ta ợ vài cái rồi lao ra cửa như muốn nôn. Khi quay vào, anh ta ôm bụng nhăn nhó rồi sau đó bắt đầu lăn lộn dưới nền nhà.

Sư lặng lẽ đứng dậy, lục trong chạn tìm cái vỏ quýt vàng khô quắt queo, bỏ vào cái nồi với ít cam thảo, chế vừa đủ nước, đậy vung kín, đun lửa nhỏ cho đến khi sôi 1 chút thì đổ vào cái bát khác, thêm 1 thìa mật ong và đưa cho anh ta. Anh ta vồ lấy, thổi phù phù rồi dốc cả bát thuốc vào miệng. Cốc nước sư chưa uống xong thì đã thấy anh ta ngồi dậy được, mặc dù vùng thượng vị vẫn hơi âm ỉ 1 chút.

Hôm nay sư mệt nên không muốn ngồi tụng trước khi đi ngủ. Sư nằm nhắm mắt trên đống lá cạnh cửa sổ chờ đợi giấc ngủ. Canh tư hôm nay thế nào mà trăng sáng vằng vặc như cái đêm nào đó. Người đàn ông lại lao đến đè trên người sư với con dao trong tay cắm thẳng vào trái tim. Đau buốt và rỉ máu, nước mắt sư chảy dài hai bên thái dương. Bách hội bốc hỏa và tứ thần thông tạo thành một cái cũi sắt, cơn đau đầu như người con gái đeo tang cha. Đôi lúc sư thấy mình dúm người lại, cổ rụt xuống và vai nhô lên. Hai tay nắm chặt, hàm cứng lại và những chiếc răng nghiến vào nhau. Bỗng nhiên tai ù đi và rồi sư thấy cơ thể mình bồng bềnh trôi qua những rặng cây, hướng về đỉnh núi nơi trăng đang gác ở đó. Cố giữ hơi thở đều đặn, không kháng cự và sư tiếp tục chờ đợi một sự thật vượt qua mọi lời tiên đoán sai lầm.

1/4 canh giờ sau, người đàn ông lại biến mất, trả lại sự yên tĩnh cho một người đàn ông khác đang nằm mơ hồ ở trong am.

*      *      *

Những ngày sau đó, tên cướp vẫn quẩn quanh bên sư bác nhưng bắt đầu bớt chửi bới, cáu kỉnh, phá phách. Buổi tối, hắn vẫn thỉnh thoảng lao đến sư nhưng lực ấn vào tim thì yếu dần và không còn chảy máu. Càng về sau, thường chỉ còn là những vụ lục đục vào buổi tối làm sư ngủ trễ hoặc tỉnh dậy 1 chút vào giữa đêm.

Sáng ngày thứ 14 kể từ khi tên cướp xuất hiện làm xáo trộn am đất nhỏ, hắn biến mất không 1 dấu vết và sư cũng gần như không nhận ra hắn đã đi từ lúc nào. Trong suốt những ngày đó, có lúc hắn đi đâu sư cũng không biết. Lúc thì về giữa đêm, rồi lại đi trước khi trời sáng hoặc ở quanh quẩn bên sư lúc gần trưa rồi chiều thì đi mất. Cũng có hôm về cả ngày nhưng chỉ loanh quanh làm phiền hơn là một vụ tấn công. Trong suốt 14 ngày đó, đôi lúc có dân làng lên lễ phật tuần rằm hoặc quan quân áp tải lương thực sang trấn khác đi qua, nhưng không ai thấy tên cướp. Sư bác cũng chẳng báo quan về chuyện này. Sư vẫn tiếp đón mọi người đến thăm viếng bình thường, cũng không hỏi ai xem có nhìn thấy người lạ như tên cướp hay không, càng không cảnh báo ai phải chú ý an toàn hay chằng buộc cửa giả. Phụ nữ, người già và trẻ con ở ngôi làng cạnh đó vẫn sống bình thường mà không hề biết chuyện gì đã xảy ra trong suốt 14 ngày qua.

Vài tháng sau, người đàn ông đó quay lại vào giữa canh tư. Vẫn giật tung cửa, gây hấn, phá phách và cầm dao đâm thẳng vào trái tim đang yếu dần của sư bác. Không một chút thay đổi, sư bác vẫn chịu đựng mà không có bất kỳ phản kháng nào. Vẫn chào đón và chăm sóc anh ta như lần trước với trà, cháo, cơm trắng, rau rừng và những bát thuốc. Vẫn giữ khoảng cách với anh ta và chưa bao giờ đáp lại, dù chỉ là một cái nhìn. Sư vẫn giữ thói quen với hơi thở và tụng niệm những câu thần chú. Vẫn chờ đợi một sự thật vượt lên mọi tiên đoán sai lầm ngay cả khi cái chết cận kề. Ít ngày sau, tên cướp lại biến mất vào thời điểm nào mà sư cũng chẳng nhận ra. Không có bất kỳ báo cáo nào được ghi chép trong sổ của quan lại về sự xuất hiện của một tên cướp nguy hiểm bậc nhất này. Ngôi làng nhỏ vẫn sống thanh bình.

Hơn một năm sau sư đóng cửa am đi đâu đó, nghe nói thân mẫu của sư mất. Nhưng trong làng cũng không biết quê sư ở đâu. Vài ngày sau sư trở về mở cửa am thì đêm đó tên cướp lại xuất hiện. Vẫn thủ đoạn và cách thức cũ, làm phiền vào ban ngày và tấn công vào ban đêm, tấn công mạnh mẽ những ngày đầu và giảm dần vào những ngày sau. Sư vẫn cư xử tử tế với kẻ đã dồn mình vào chỗ chết như những lần trước. Hai con người kỳ cục này thực hành một khuôn mẫu đối ngược nhau đến phát bực. Tên cướp hành động vì một thứ mà anh ta không chắc chắn và nhà sư thì chờ đợi một sự thực đáp trả mọi tiên đoán sai lầm.

Mô típ như vậy, cứ vài tháng hoặc vài năm tên cướp lại quay lại. Đến đi không ai biết, chỉ duy nhất nhà sư gặp anh ta. Nhưng rồi đến một ngày, bí mật về mối quan hệ của sư bác với người đàn ông có trát truy nã của triều đình này cũng được tiết lộ. Đó là khi có một lái buôn nổi tiếng muốn phá cái am để xây cái chùa to hơn. Ông ta nhìn thấy vị thế tựa sơn đạp thủy của am, tuy không nằm trên tuyến đường chính thuận lợi đi lại, nhưng đủ kín đáo để làm những công việc mà chỉ một vài người biết. Bẻ 1 cành cây bằng đốt ngón tay, đặt một đầu vào vị trí của am trên bản đồ và xoay 1 vòng tròn, vài phủ giàu có và những trại lính xung quanh sẽ nằm gọn trong vòng tròn đó. Chỉ cần thêm một câu chuyện tưởng tượng pha chút thần bí, danh tiếng linh thiêng của ngôi chùa dự định xây có thể lan tới kinh thành. Khi đó, những kẻ mà ông ta muốn phải quy phục dưới thần quyền sẽ tự động vác xác đến.

Người lái buôn chăm chú nhìn sư nhưng không rõ bản thân có quen không. Ông ta không thích sư bác, nhưng cũng không dám coi thường. Mặc dù sư bác đã già, tác phong không còn nhanh nhẹn, tiếng nói không còn trong nữa, nhưng ánh mắt vẫn rất sắc sảo, cử động tay không có chút nào sai lầm hay hậu đậu, từ ngữ vẫn rõ ràng đủ để người khác hiểu ở mức vừa phải. Người lái buôn có tiền chất đầy nhà đến mức quân triều đình còn phải e ngại, nhưng đứng trước một sư bác ở cái am bé nhỏ này, có điều gì đó vẫn khiến ông ta không dám manh động.

Sư mời ông ta xuống suối, 2 người ngồi trên 2 phiến đá không cạnh nhau, cũng chẳng đối nhau. Họ nói chuyện trong suốt 2 canh giờ, mặc dù cũng có lúc họ ngồi yên lặng rất lâu. Đám gia nhân đi theo không nghe được họ nói chuyện gì vì tiếng suối chảy lớn hơn âm thanh phát ra từ 2 người đó. Sư ngồi thẳng, đầu và lưng tựa như thể dựa vào 1 cái cột vô hình, yên tĩnh trong phần lớn 2 canh giờ. Ngược lại, kẻ lái buôn đôi lúc thể hiện sự bồn chồn. Thỉnh thoảng, ông ta liếc mắt nhìn sư nhưng sư không nhìn lại.

Tên cướp có vị trí như thế nào trong câu chuyện của sư và người lái buôn không ai biết. Kết thúc buổi đó, người lái buôn cúi chào sư trước khi ra về. Lúc lên ngựa, ông ta còn nheo nheo mắt nhìn về cái am đất nhỏ lọt thỏm giữa rừng. Sau đó, am vẫn ở đó và không có ai đến phá đi để xây chùa cả.

Sư mỗi ngày yếu dần, không thể tự nấu ăn cho mình nữa. Nhiều hôm sư cũng không ngồi dậy được mà phải nằm. Sư vẫn giữ thói quen tập thở và niệm thần chú gì đó không ai biết. Dân làng lo sư ốm nên cắt cử mấy ông già thay phiên lên ngủ trên am vào ban đêm. Các ông ấy kể rằng, dường như đêm nào sư cũng nhìn ra cửa như đợi một ai đó hoặc một điều bí mật nào đó. Sư chưa từng cho ai động vào người để tắm giặt hoặc thay quần áo. Khi sư làm điều đó, mọi người phải ra ngoài và đứng cách am từ xa. Một hôm, sư bỗng tỉnh táo, còn ngồi dậy được, ăn 2 bát cơm, nói chuyện sang sảng. Sư kể chuyện khiến các cụ già cười nghiêng ngả. Sư bảo các cụ về nhà, đúng giờ ngọ hôm sau thì đến thay quần áo cho sư và dọn dẹp. Các cụ hiểu ý sư muốn yên tĩnh và tin sư đã khỏe lại nên lục tục ra về.

Giờ ngọ hôm sau các cụ mang ít trái cây và bộ quần áo mới đến. Đi đường các cụ còn nói là chắc động giời nên sư mới để các cụ thay quần áo cho. Họ dự định cho sư tắm rửa ở suối, thay quần áo rồi uống trà, ăn trái cây với sư. Đến nơi, am vẫn yên tĩnh như mọi ngày, nhưng cửa am thì đóng kín. Mọi người tưởng sư đi đâu đó nên đóng cửa để tránh thú rừng vào lục lọi. Nhưng gọi mãi bên ngoài không thấy, họ quyết định cạy cửa ra để vào dọn dẹp trước trong khi đợi sư về. Khi cửa được mở, sư vẫn nằm bên trong, mặc bộ quần áo mới. Trên bếp, nồi nước to với ngũ vị hương vẫn đang bốc khói. Hai cái khăn mặt trắng đặt ngay ngắn trên bàn. Sư nằm khoan thai, hai tay đặt lên ngực. Khi các cụ lay gọi thì tay rơi xuống để lộ một mảnh giấy cài trong khe áo. Mảnh giấy đó là trát truy nã một tội phạm nguy hiểm có dấu của Bộ Hình, nhưng đã bị gạch chéo ở chỗ ghi từ “cướp”. Đêm trước di quan, có 1 bóng đen lớn lặng lẽ đến am lúc mọi người đã ngủ mê mệt. Bóng đen đó đi cầm theo 1 cuốn sách nhỏ mà khi sư còn sống vẫn thường viết lách vào trong đó.

Hà nội, ngày 8/8/2023