Bài báo khoa học

Tóm tắt: Tự sát ở thanh niên đang trở thành một vấn đề rất đáng quan tâm hiện nay khi nhiều vụ tự sát được truyền thông ghi nhận ở cả hai giới trên nhiều vùng miền khác nhau. Điều này đặt ra câu hỏi rằng liệu tự sát có đang thực sự tăng lên không và những sự kiện trong thời kỳ thơ ấu đóng góp như thế nào vào ý tưởng tự sát (YTTS) khi trưởng thành? Mục tiêu chính của nghiên cứu này nhằm xem xét mối liên hệ giữa trải nghiệm thơ ấu (TNTA) tiêu cực và ý tưởng tự sát ở thanh niên. Một cuộc khảo sát trực tuyến trên 381 khách thể thanh niên Việt Nam đã được thực hiện vào nửa cuối năm 2021. Kết quả cho thấy khoảng gần một phần ba số người được hỏi cho biết họ có ý tưởng tự sát trong vòng 1 tháng qua. Nhiều loại TNTA tiêu cực có khả năng dự báo nguy cơ cao YTTS như thành viên gia đình bị rối loạn tâm thần, trầm cảm tự sát, lạm dụng tinh thần, bạo lực gia đình, bỏ bê tinh thần. Tích lũy số lượng TNTA tiêu cực cũng khiến gia tăng ý tưởng tự sát. Mối quan hệ giữa TNTA tiêu cực và YTTS cũng khác nhau về giới hoặc giữa khu vực sinh sống thành thị và nông thôn.

Trích dẫn: Đặng Đức Anh, Lê Thị Huyền Trang, Đặng Hoàng Minh (2022). Mối quan hệ giữa trải nghiệm thơ ấu tiêu cực và ý tưởng tự sát ở thanh niên Việt Nam. Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn – VNU, 8 (6), 736-751. DOI: http://dx.doi.org/10.1172/vjossh.v8i6.2105. ISSN 2354-1772.

Abstract

Background

Adverse childhood experiences (ACE) are linked to a range of negative health outcomes. However, the majority of research has been conducted in high-income-countries and little is known about ACE prevalence in low-and-middle-income-countries (LMIC), where the majority of the world’s youth reside.

Objective

Assess ACE prevalence and demographic correlates in two provinces of the Southeast Asian LMIC Vietnam.

Methods

Prevalence of ACE were assessed among 644 Vietnamese high-school students, using the WHO Adverse Childhood Experiences-International Questionnaire.

Results

About 74% of participants reported experiencing at least one ACE, with 27% reporting experiencing three or more ACE. Prevalence of sexual abuse was above 10% for both males and females. Sex differences were non-significant, suggesting child protective services should give consideration to both males and females. Factor analysis identified two patterns of ACE: Violence and Aggression in Family and Community, and Family Member Dysfunction. Three ACE (sexual abuse, emotional neglect, physical neglect) did not load on either factor. Thus, at least in our sample, sexual abuse was independent of other ACE, which indicates that it can occur in any context, among children in otherwise well-functioning families, an important consideration for child protective services. The lack of significant sex differences in sexual abuse means that Vietnamese boys need equal consideration for protection and support as girls.

Conclusions

Results indicate that ACE are a prevalent public health problem in Vietnam. Future research evaluating potential ACE risk factors such as authoritarian parenting may be useful to identify possible targets for prevention programs in Vietnam.

 

Citation:  Le, T., Dang, H.-M., & Weiss, B., (2022), “Prevalence of adverse childhood experiences among Vietnamese high school students”, Child Abuse & Neglect, 128, pp. 105628. https://doi.org/10.1016/J.CHIABU.2022.105628

Tóm tắt: Nghiên cứu này được thực hiện trong bối cảnh số lượng gia tăng các vụ bắt nạt, bạo lực học đường, phạm tội vị thành niên được ghi nhận ở Việt Nam. Bắt nạt và bạo lực học đường vốn liên quan chặt chẽ tới hành vi gây hấn. Gây hấn ảnh hưởng tới quản lý lớp học và triển khai nội dung học tập của giáo viên cũng như cản trở xây dựng môi trường học đường thân thiện. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá thực trạng hành vi gây hấn thể hiện đồng thời qua hình thức và chức năng ở nhóm học sinh trung học phổ thông. Nghiên cứu cắt ngang trên 644 học sinh THPT ở Hà Nội và Hưng Yên. Nghiên cứu sử dụng thang đo tự báo cáo “Xung đột Đồng đẳng” (PCS). Kết quả cho thấy 99,4% học sinh báo cáo có hành vi gây hấn, 30,4% học sinh “thường xuyên” và 20,8% em “luôn luôn” thực hiện ít nhất một hành vi gây hấn. Loại gây hấn được học sinh lựa chọn nhiều nhất là phản ứng-công khai và loại ít nhất là chủ động-công khai. Khác với nhiều nghiên cứu trước đây, những học sinh nữ thể hiện mức độ gây hấn cao hơn học sinh nam. Học sinh ở thành thị gây hấn nhiều hơn học sinh nông thôn. Bốn loại gây hấn cũng có tương quan thuận và khả năng dự báo cho nhau. Kết quả nghiên cứu có thể giúp cho xây dựng kế hoạch quản lý lớp học và can thiệp hỗ trợ tâm lý cho học sinh.

Trích dẫn: Lê Thị Huyền Trang & Đặng Hoàng Minh (2021). Gây hấn ở học sinh trung học phổ thông: hình thức và chức năng. VNU Journal of Science: Education Research. 37 (1). DOI: 10.25073/2588-1159/vnuer.4477.  e-ISSN: 2588-1159.

Tóm tắt: Đặc điểm nhẫn tâm – vô cảm đã được nghiên cứu ở một số quốc gia phát triển và được ghi nhận trong Sổ tay thống kê các rối loạn tâm thần (DSM-V) như một phân loại phụ của rối loạn hành vi. Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về chủ đề này ở Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm xem xét ảnh hưởng của đặc điểm nhẫn tâm – vô cảm đến hành vi gây hấn ở học sinh THPT. Đây là một nghiên cứu cắt ngang với số lượng mẫu là 644 học sinh, sử dụng thang đo tự báo cáo về đặc điểm nhẫn tâm – vô cảm và gây hấn đồng đẳng. Kết quả cho thấy, tổng điểm nhẫn tâm – vô cảm ở học sinh nam cao hơn học sinh nữ, nhưng tổng điểm gây hấn ở học sinh nữ cao hơn học sinh nam. Đặc điểm nhẫn tâm – vô cảm được phát hiện có tương quan thuận với sự hung hăng và dự báo sự biến thiên của hành vi gây hấn. Tuy vậy, chỉ có tương tác giữa giới tính và đặc điểm nhẫn tâm gây hiệu ứng lên hành vi gây hấn quan hệ. Nghiên cứu này có ý nghĩa đối với những nhà lâm sàng đang làm việc với trẻ gây hấn; đồng thời mở ra hướng nghiên cứu tâm lý mới ở Việt Nam.

Trích dẫn: Lê Thị Huyền Trang & Đặng Hoàng Minh (2021). Mối quan hệ giữa đặc điểm nhẫn tâm-vô cảm và hành vi gây hấn ở học sinh trung học phổ thông. Tạp chí Tâm lý học, 1 (262), 44-59. ISSN: 1859-0098.

Tóm tắt: Hiện nay, nhu cầu đánh giá gây hấn, bạo lực học đường, bắt nạt học đường rất cao, trong khi còn thiếu các công cụ đo lường về hành vi liên quan đến bạo lực và bắt nạt kể cả ở thủ phạm lẫn nạn nhân cho các nhà nghiên cứu và thực hành lâm sàng. Mục tiêu của nghiên cứu này là thích nghi công cụ đo gây hấn có tên gọi Thang đo Xung đột Đồng đẳng Rút gọn – The Brief Peer Conflict Scale (PCS20) ở học sinh Việt Nam. Nghiên cứu này sử dụng 2 phương pháp: điều tra định tính với số mẫu là 10 học sinh và 5 giáo viên phổ thông trung học; điều tra định lượng với số mẫu là N=96 học sinh lớp 11 và 12. Kết quả phân tích cho thấy độ tin cậy của toàn thang là 0,80. Phân tích nhân tố cho thấy các items được phân vào 2 tiểu thang đo chức năng gây hấn: chủ động và phản ứng, lần lượt với độ tin cậy của từng tiểu thang là 0,72 và 0,66. Kết quả cho thấy có thể sử dụng PCS20-V làm thang đo trong nghiên cứu và thực hành lâm sàng về gây hấn ở thanh thiếu niên Việt Nam.

Trích dẫn: Lê Thị Huyền Trang & Đặng Hoàng Minh (2019). Thích nghi thang đo xung đột đồng đẳng rút gọn (PCS20) ở học sinh Việt Nam. Tạp chí Tâm lý học, 9 (246), 29-39. ISSN: 1859-0098

Tóm tắt: Nhiều nghiên cứu cho biết có mối tương quan thuận giữa mức độ phơi nhiễm các trải nghiệm thơ ấu tiêu cực (Adverse Childhood Experiences – ACEs) và hành vi phạm tội sau đó của cá nhân. Ý kiến khác chỉ ra rằng không phải tất cả trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đều sẽ phạm tội. Bài viết sẽ tổng quan các nghiên cứu về ACE và hành vi phạm tội, nhằm mô hình hóa sự ảnh hưởng của ACEs đối với hành vi phạm tội và các yếu tố nguy cơ ở người có ACEs. Các nghiên cứu về sức khỏe tâm thần ở người phạm tội có ACEs cũng được tổng quan điểm luận để xác định vai trò của sức khỏe tâm thần là biến trung gian hay biến điều hòa giữa ACEs và hành vi phạm tội. Các tác giả sẽ tổng hợp, phân tích các nghiên cứu để lý thuyết hóa các nhân tố bảo vệ cá nhân có ACEs khỏi con đường tội phạm như mối quan hệ gia đình, mối quan hệ nhóm đồng đẳng và tình cảm đạo đức. Một số đề xuất cho nghiên cứu xa hơn được đưa ra bao gồm: (1) mức độ phơi nhiễm ACEs và hậu quả ở quần thể dân chúng và người phạm tội ở Việt Nam; (2) Những nhân tố tâm lý có ý nghĩa bảo vệ người bị phơi nhiễm ACEs thoát khỏi con đường phạm tội.

Trích dẫn: Lê Thị Huyền Trang & Đặng Hoàng Minh (2017). Mối quan hệ giữa trải nghiệm thơ ấu tiêu cực và hành vi phạm tội. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về tâm lý khu vực Đông Nam Á, quyển 3, p.405-415. ISBN: 978-604-62-9913-4

Tóm tắt: Bài bài viết này có mục tiêu cung cấp các thông tin bổ trợ để hướng tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử đạo đức nghề nghiệp cho các nhà tâm lý học đường nói riêng và các nhà tâm lý Việt Nam nói chung. Các thông tin được đề cập bao gồm sự cấp thiết của vấn đề, lịch sử hình thành và nền tảng đạo đức truyền thống, quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động cung cấp dịch vụ tâm lý, thông tin quy tắc đạo đức của nghề y tế với tư cách là một ngành gần gũi với nghề tâm lý ở Việt Nam, thông tin quy điều đạo đức nghề tâm lý của các nước trên thế giới. Từ đó, các tác giả đề xuất cấu trúc Bộ quy tắc và xu hướng xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức cụ thể, các vấn đề khen thưởng và kỷ luật cũng như trình tự ban hành.

Trích dẫn: Lê Thị Huyền Trang & Trần Thành Nam (2016). Một vài định hướng xây dựng bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp của nhà tâm lý trong bối cảnh Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế Tâm lý học học đường lần thứ 5, 116-130, Đà Nẵng.

Tóm tắt: Bài viết công bố những kết quả sơ bộ của nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn khi xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực thực hành đạo đức cho nhà tâm lý Việt Nam. Nghiên cứu lý luận đã đưa ra được 6 nguyên tắc đạo đức cơ bản và 7 lĩnh vực thường xuyên xuất hiện vi phạm đạo đức; nghiên cứu thực tiễn đã xây dựng ngân hàng hơn 200 câu hỏi, tiến hành thử nghiệm bảng hỏi trên mẫu 124 người từ ba miền Bắc, Trung, Nam. Kết quả thử nghiệm thể hiện năng lực thực hành đạo đức của các nhà tâm lý Việt Nam chưa đạt các tiêu chuẩn quốc tế phổ biến để hành nghề.

This article announces the preliminary results of the study on the theoretical and realistic foundations to development of the ethical application capacity assessment tools for Vietnamese psychologists. Theoretical studies have come up with six basic ethical principles and 7 ethical violation fields frequently appeared; practical research has built a question banking with more than 200 items, conducted an investigation by an experimental questionnaire on a sample of 124 people working in 3 regions of North, Central and South. The investigation results show the application capacity of the basic ethical principles of psychologists do not meet yet the popular international standards required to practice.

Trích dẫn: Lê Thị Huyền Trang (2016). Cơ sở lý luận và thực tiễn khi xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực thực hành đạo đức cho các nhà tâm lý. Tạp chí Giáo dục và Xã hội, 11, 4-9. ISSN: 1859 – 3917.